Không thể chỉ bán nhiều hơn
Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam, đồng thời là thị trường có ảnh hưởng đáng kể tới định hướng phát triển của ngành hàng này. Tuy nhiên, cùng với quy mô nhập khẩu ngày càng lớn, các yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch trong chuỗi cung ứng cũng ngày càng khắt khe.

Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới. Ảnh: NNVN
Tại Diễn đàn Kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ I diễn ra ngày 24/6, nhiều chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng giai đoạn tăng trưởng dựa vào sản lượng đang dần khép lại. Để mở rộng thị phần tại thị trường hơn 1,4 tỷ dân, nông sản Việt Nam phải chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị gia tăng.
Ngành chuối là ví dụ điển hình cho quá trình chuyển đổi này. Ông Phạm Quốc Liêm, Chủ tịch HĐQT Unifarm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho hay, mỗi năm Trung Quốc nhập khẩu khoảng 1 tỷ USD chuối. Trong khi đó, Việt Nam hiện nằm trong nhóm 10 nước xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới với kim ngạch hơn 418 triệu USD và diện tích sản xuất khoảng 161.000 ha. Ngành chuối Việt Nam cũng đang hướng tới mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trong những năm tới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, việc mở rộng diện tích hay tăng sản lượng là chưa đủ. “Cơ hội không tự tạo ra giá trị. Giá trị chỉ được hình thành khi sản phẩm được xây dựng trên nền tảng khoa học công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và niềm tin của thị trường”, ông Liêm nhấn mạnh.
Theo ông, lợi thế của Việt Nam nằm ở điều kiện khí hậu phù hợp, vị trí gần các trung tâm tiêu thụ lớn của châu Á và khả năng phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Song dư địa tăng trưởng chỉ thực sự được khai thác khi toàn bộ chuỗi sản xuất được nâng cấp, từ giống cây trồng, vùng nguyên liệu, canh tác, thu hoạch đến bảo quản và tiêu thụ. Từ thực tiễn của Unifarm, doanh nghiệp đã đầu tư hơn 1.500 ha vùng nguyên liệu, phát triển giống chuối Uni126 có khả năng kháng bệnh Panama tới 95 - 98%, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng nghiêm ngặt trong toàn bộ quy trình sản xuất.
Ông Liêm cho rằng, điều quan trọng nhất không phải là sở hữu công nghệ hiện đại mà là duy trì chất lượng ổn định. Đây chính là yếu tố giúp sản phẩm có thể thâm nhập và đứng vững tại các thị trường yêu cầu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Singapore.
Xây dựng chuỗi cung ứng thay vì chỉ xuất khẩu hàng hóa
Câu chuyện của ngành chuối phản ánh yêu cầu chung đối với ngành rau quả Việt Nam hiện nay: phải chuyển từ xuất khẩu dựa trên lợi thế nguyên liệu sang xuất khẩu dựa trên giá trị. Sự chuyển dịch này càng trở nên cấp thiết khi Trung Quốc không còn là thị trường tiêu thụ đơn thuần. Tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh chóng cùng sự phát triển của ngành thực phẩm - đồ uống đang làm thay đổi cấu trúc nhu cầu tiêu dùng. Không chỉ cần trái cây tươi, thị trường này đang gia tăng nhập khẩu các sản phẩm có hàm lượng chế biến cao hơn như nước quả cô đặc, nước ép, puree trái cây, rau quả đông lạnh, đồ hộp và nguyên liệu phục vụ công nghiệp thực phẩm.
Theo ông Đinh Cao Khuê, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc DOVECO, đây mới là phân khúc có tiềm năng tăng trưởng lớn nhất trong những năm tới. Khác với trái cây tươi phụ thuộc vào mùa vụ và chịu áp lực lớn về thời gian tiêu thụ, các sản phẩm chế biến sâu có khả năng bảo quản lâu hơn, ổn định hơn và mang lại giá trị kinh tế cao hơn.
Thực tế khảo sát của DOVECO tại các trung tâm logistics và doanh nghiệp chế biến ở Chiết Giang, Hồ Bắc và Ninh Ba cho thấy nhu cầu của doanh nghiệp Trung Quốc đối với nguyên liệu và sản phẩm chế biến từ trái cây nhiệt đới Việt Nam đang gia tăng đáng kể. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc quan tâm tới các sản phẩm từ dứa, chanh leo, xoài, chuối và các loại rau quả nhiệt đới khác. Đây là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế về nguồn cung nguyên liệu nhưng vẫn còn nhiều dư địa để nâng tỷ lệ chế biến.
Ông Khuê cho rằng, giai đoạn hợp tác tiếp theo giữa Việt Nam và Trung Quốc không nên chỉ dừng lại ở xuất khẩu nông sản tươi mà cần mở rộng sang liên kết vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy chế biến, phát triển kho lạnh, logistics và hệ thống phân phối. “Khi tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt Nam mới có thể giữ lại phần giá trị lớn hơn thay vì chỉ bán nguyên liệu”, ông Khuê nói.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, nhiều điểm nghẽn vẫn cần được tháo gỡ. Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group cho biết, việc cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói hiện vẫn là một trong những rào cản lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Đây là điều kiện bắt buộc để nông sản được xuất khẩu chính ngạch vào Trung Quốc nhưng quá trình thẩm định và phê duyệt chưa theo kịp nhu cầu mở rộng sản xuất.
Theo ông Tùng, sự chậm trễ này không chỉ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp mà còn khiến nhiều cơ hội giao thương bị bỏ lỡ. Do đó, cần đẩy mạnh kiểm tra trực tuyến, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng hai nước và hình thành “luồng xanh” cho các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống dữ liệu số dùng chung để quản lý mã số vùng trồng cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm tăng tính minh bạch và hạn chế tình trạng gian lận.
Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), Trung Quốc hiện chiếm khoảng 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Năm 2025, xuất khẩu rau quả đạt 8,56 tỷ USD, trong đó riêng thị trường Trung Quốc đạt khoảng 5,5 tỷ USD. Cùng với việc nhiều nghị định thư xuất khẩu được ký kết thời gian qua, cơ hội cho rau quả Việt Nam vẫn rất lớn. Tuy nhiên, cách thức tiếp cận thị trường đang thay đổi nhanh chóng.
Các nền tảng thương mại điện tử, hệ thống bán lẻ hiện đại và mô hình phân phối số đang dần thay thế vai trò của các chợ đầu mối truyền thống. Trong khi đó, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và an toàn thực phẩm ngày càng nghiêm ngặt.
Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ngành rau quả Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển từ tăng trưởng dựa trên sản lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng và phát triển bền vững. Những thành công của sầu riêng hay mít trong thời gian qua cho thấy tiềm năng rất lớn của thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, lợi thế đó sẽ khó duy trì nếu doanh nghiệp tiếp tục phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu thô.
Đối với thị trường Trung Quốc, hướng đi trong thời gian tới không chỉ là mở rộng danh mục sản phẩm được cấp phép xuất khẩu mà còn phải nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu, đẩy mạnh chế biến sâu, hoàn thiện hệ thống logistics và tăng cường ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc. Khi thị trường ngày càng cạnh tranh, giá trị gia tăng sẽ là yếu tố quyết định vị thế của nông sản Việt Nam. Muốn chinh phục thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp không thể chỉ bán nhiều hơn, mà phải bán những sản phẩm có chất lượng cao hơn, minh bạch hơn và đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường.

